Làng nghề thủ công truyền thống ở Nam Định

loading...

Nam Định không chỉ nổi tiếng bởi sản phẩm gạo thơm ngon và lòng hiếu học mà còn nổi tiếng bởi những làng nghề truyền thống. Theo dòng thời gian, làng nghề phát triển mạnh góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội địa phương. Làng nghề phát triển đồng nghĩa với việc thúc đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn với quy mô rộng trên địa bàn tỉnh.

Làng nghề thủ công truyền thống ở Nam Định-vi-sao-toi-ngheo

Phương thức phát triển làng nghề

Nhận thức được tầm quan trọng của làng nghề truyền thống trong việc phát triển kinh tế xã hội, Nam Định đã đẩy mạnh chiến lược phát triển tới năm 2010 cho ngành kinh tế giầu tiềm năng này. Tỉnh thực hiện kế hoạch ngắn hạn và dài hạn nghiên cứu sự phát triển và đặc điểm chính của làng nghề thủ công. Theo báo cáo của ngành công nghiệp tỉnh Nam Định, tiến trình này có thể phân chia thành ba giai đoạn, tương đương với ba giai đoạn phát triển làng nghề thủ công truyền thống sau đây:

Trước năm 1960: Làng nghề truyền thống được thành lập bởi nhu cầu của người dân địa phương trong việc sản xuất và sinh sống, trước hết là trên địa bàn tỉnh. Để xây dựng làng nghề, trước tiên phải có người du nhập và truyền bá nghề truyền thống cho người dân trong làng, gọi là ông tổ nghề. Làng rèn Vân Chàng (Nam Trực – Nam Định), hiện tại vẫn còn đền thờ ba ông tổ nghề rèn. Trong giai đoạn đầu, kĩ thuật nghề thủ công hầu như chỉ được truyền bá giữa các thành viên trong gia đình của ông tổ nghề. Sau đó, do nhu cầu phát triển và bảo tồn nghề thủ công trước biến động xã hội và biến động từ các hộ gia đình làm nghề thủ công, nghề thủ công đã được phát triển từ phạm vi gia đình tới phạm vi làng xóm. Để giành được vị trí vững chắc trong xã hội và giữ vững việc kinh doanh, các hộ sản xất đã tập hợp lại thành phường hội dưới sự chỉ dẫn của ông tổ nghề. Làng nghề thủ công bắt nguồn từ những hộ gia đình làm nghề riêng lẻ và từ phường hội.

Tuy nhiên, phường hội chỉ là một dạng những nhóm nghề thủ công, không phải là hiệp hội kinh doanh. Phương thức sản xuất chủ yếu của các làng nghề thủ công truyền thống là các hộ sản xuất với số lượng và kiểu loại sản phẩm hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào thị trường tại địa phương và trong nước. Chúng ta không thấy sự hợp tác giữa các hộ làm nghề thủ công với những hộ làm nghề khác. Trong giai đoạn này, phương thức phát triển làng nghề thủ công có thể xác định bằng công thức: Ông tổ nghề thủ công + Phường hội = Làng nghề.

Từ năm 1960 đến 1990: mối quan hệ sản xuất trong các làng nghề phát triển tới tầm cao mới. Dưới tác động của chính sách phát triển kinh tế xã hội và thông qua những biến động chung, rất nhiều hợp tác xã nghề thủ công đã được thiết lập. Theo đó, phương thức sản xuất tập thể và hợp tác xã đã xuất hiện trong các làng nghề. Trong giai đoạn này, Nam Định là ngôi nhà chung của rất nhiều làng nghề và hợp tác xã nghề thủ công nổi tiếng như: làng dệt Dịch Diệp (Phương Thanh – Trực Ninh), Trung Tiến (Nam Trực) và làng cơ khí Tiên Tiến và Tân Tiến (Nam Trực)…

Kĩ thuật sản xuất ở các làng nghề thủ công truyền thống cũng được phát triển. Những công đoạn sản xuất đơn lẻ đã được điện khí hóa và cơ khí hóa, hợp tác xã sản xuất đầu tư vào việc mua máy móc trang thiết bị sản xuất. Sự hợp tác kinh doanh sản xuất giữa các hộ gia đình và tập thể trong quá trình sản xuất và kinh doanh cũng đã được thiết lập và trở thành nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế của các làng nghề thủ công truyền thống.

Sự phát triển sản xuất đã khiến số lượng và sự đa dạng của sản phẩm cũng được tăng lên, về căn bản là dựa trên sự phù hợp giữa nhu cầu của thị trường trong nước và thị trường địa phương, bên cạnh đó một số sản phẩm như khăn dệt cũng được tăng sản lượng xuất khẩu. Trong suốt khoảng thời gian 1984 đến 1990, mỗi năm, làng dệt của Nam Định xuất khẩu tới 3-5 nghìn chiếc khăn bông tới thị trường Đông Âu và Xô Viết cũ thông qua hợp đồng với Công ty dệt may Sơn Nam, Công ty dệt Nam định và một số công ty tư nhân khác.

Trong thời gian này, những hợp tác xã truyền thống và làng nghề thủ công mới cũng phát triển với tốc độ rất nhanh. Ban quản lý hợp tác xã – cùng với sự hỗ trợ từ tổ chức Đảng và các nhà chức trách – đã thay thế vai trò của những người truyền bá nghề thủ công truyền thống. Phương thức phát triển của làng nghề thủ công truyền thống giai đoạn này có thể xác định: Chủ tịch + Hợp tác xã + Sự hỗ trợ của nhà nước = Làng nghề

Từ năm 1990 đến 2003: Sau khi Luật Kinh tế tư nhân được thi hành, thì càng tác động nhiều đến làng nghề thủ công truyền thống. Nhiều doanh nhân, chủ yếu là thành viên hợp tác xã và những người về hưu từ những xí nghiệp quốc doanh, đã khấm khá hơn. Những người có năng lực kinh doanh đã tự thành lập cơ sở sản xuất riêng, kinh tế hộ gia đình, và những xí nghiệp kinh doanh vừa và nhỏ. Sự phát triển của những xí nghiệp kinh doanh đã dẫn đến sự gia tăng nhu cầu lao động và nhiều người dân lao động đã được đào tạo kĩ năng sản xuất hàng thủ công hơn. Vì vậy số lượng lao động có tay nghề trong làng thủ công đã được tăng lên. Nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả kinh tế, những xí nghiệp nhỏ đã hợp tác với những xí nghiệp lớn hơn trở thành những công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần. Theo đó, nhiều công nhân có tay nghề và đủ năng lực ở các xí nghiệp đã tự thành lập cớ sở sản xuất riêng làm vệ tinh cho những xí nghiệp lớn hơn. Theo cách đó, nghề thủ công đã được mở rộng ra khắp các làng. Đáng chú ý là những làng nghề thủ công truyền thống như: Xuân Tiến (Xuân Trường), Yên Xá (Ý Yên), Vân Chàng (Nam Trực) và những làng thủ công mới thành lập như: Hải Thịnh (Hải Hậu), Trực Hưng (Trực Ninh)…

Với sự năng động của những hộ sản xuất, nhóm sản xuất thì trong giai đoạn này nghề thủ công đã phát triển mạnh hơn giai đoạn trước. Các cơ sở kinh doanh, đặc biệt là những xưởng sản xuất đã nhanh nhẹn đầu tư nâng cấp trang thiết bị và công nghệ mới để nâng cao quy mô sản xuất và hiệu quả kinh doanh. Đồng thời, các cơ sở sản xuất ở những làng nghề thủ công cũng đẩy mạnh hợp tác với những nhóm sản xuất lớn hơn để nâng cao năng lực giải quyết những khó khăn trong sản xuất kinh doanh đặc biệt là trong thị trường tiêu thụ. Trong thời kì này, có nhiều bằng chứng về quy mô phát triển, năng suất, kiểu dáng và chất lượng hàng thủ công. Nhiều cơ sở kinh doanh thực hiện xuất khẩu trực tiếp như Công ty TNHH Vinh Oanh (Ý Yên) và Công ty TNHH cơ khí Việt Nam Nhật Bản (ở Xuân Trường). Làng nghề thủ công truyền thống giai đoạn này có thể xác định: Thương gia + Cơ sở sản xuất + Sự hỗ trợ của nhà nước = Làng nghề

Cho sự phát triển bền vững trong tương lai

Sự hạn chế sản xuất hàng thủ công trong phạm vi làng – nơi làm việc và nơi ở của người lao động – và do thiếu vốn đầu tư, đã khiến cho những khó khăn càng gia tăng trong làng nghề. Vì vậy, khôi phục nghề thủ công truyền thống và phát triển nghề thủ công mới là một trong những sự lựa chọn quan trọng để hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn của tỉnh Nam Định tới năm 2010. Phương thức sản xuất trong làng nghề thủ công trong giai đoạn này có thể xác định: Làng nghề = Doanh nhân + Cơ sở sản xuất. Tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu trong việc thi hành những chính sách hỗ trợ của nhà nước, gia tăng sự quản lý nhà nước trong ngành nghề thủ công, tạo cơ hội thuận tiện cho các cơ sở kinh doanh phát triển.

Thị trường là một nhân tố quan trọng trong việc tồn tại và phát triển làng nghề truyền thống. Nhận thức rõ điều đó, nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi, đặc biệt là trong thủ tục hành chính. Tỉnh cũng xây dựng website cung cấp thông tin giới thiệu sản phẩm, những phương tiện thiết bị thương mại điện tử, và hướng dẫn xuất khẩu cho các làng nghề và cơ sở kinh doanh. Song song với đó, nhà nước cũng tiến hành thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm, dự thảo kế hoạch và ban hành chính sách hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất trong tất cả các thành phần kinh tế có nghĩa vụ xuất nhập khẩu sản phẩm của làng nghề.

Đề cập đến vấn đề chính sách đất đai cho các nhóm sản xuất, tỉnh đã tiến hành quy hoạch và thành lập những cụm công nghiệp tập trung. Cho đến năm 2003, 14 cụm công nghiệp đã được lên kế hoạch chi tiết về vị trí và tổng vốn đầu tư. Một số đã đi vào hoạt động như Xuân Tiến (Xuân Trường), Vân Chàng (Nam Trực) và Tông Xá (Ý Yên). Trong tương lai, hàng loạt những khu công nghiệp sẽ được lên kế hoạch đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các nhóm sản xuất.

Thêm vào đó, Nam Định đang bổ sung những chính sách hỗ trợ thu hút về mặt tài chính. Quỹ khuyến khích phát triển nghề thủ công đã được thành lập dưới sự quản lý của ngành công nghiệp địa phương. Nhà kinh doanh giờ đây đã được tiếp cận nguồn vốn dành cho mở rộng sản xuất kinh doanh nhờ vào những chính sách ưu đãi liên quan đến thủ tục kinh doanh. Đồng thời, tỉnh đã điều chỉnh cân đối mức thuế cho các cơ sở sản xuất địa phương như là một cách hữu hiệu để khuyên khích các xã phát triển nghề thủ công và tăng số lượng cơ sở sản xuất vừa và nhỏ.

Trong thời điểm này, một trong những nhân tố quan trọng cho sự phát triển làng nghề thủ công truyền thóng đó là những tiến bộ khoa học kĩ thuật, môi trường và thông tin tư vấn. Nguồn vốn đáng kể đã được cung cấp cho những nhóm sản xuất để đầu tư mua trang thiết bị, cải tiến công nghệ, nâng cao kĩ thuật và áp dụng phương pháp quản lý để nâng cao khả năng sản xuất, hiệu quả kinh doanh và tính cạnh tranh của sản phẩm. Tỉnh ưu tiên cho việc hỗ trợ chuyển giao trang thiết bị và kĩ thuật đồng bộ từ cơ sở sản xuất quốc doanh cho những nhóm sản xuất ở các làng nghề, cung cấp thông tin và tư vấn miễn phí về thị trường, trong tiến trình hội nhập thị trường trong nước và quốc tế các cơ sở sản xuất sẽ phải đối mặt với những cơ hội và thách thức mới.

Một vấn đề quan trọng khác là đào tạo nguồn nhân lực cho các làng nghề thủ công truyền thống. Nhiều trung tâm dạy nghề, hướng nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề thủ công truyền thống cũng được thành lập trên địa bàn tỉnh để đáp ứng những yêu cầu khác nhau và thu hút sự tham gia của số lượng lớn lao động trẻ.

Nhờ chính sách ưu đãi và sự hỗ trợ tập trung từ tỉnh, làng nghề truyền thống Nam Định sẽ phát triển mạnh mẽ hơn.

Sưu tầm từ: hrpc.com.vn

loading...

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*